Gà trống hoa cúc
Rooster and Chrysanthemum
Cơ sở tranh
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh
Tổ dân phố Đông Khê, Phường Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh
0966405957
Mô tả
TÁC PHẨM "GÀ TRỐNG HOA CÚC"
Tên tác phẩm: Gà trống hoa cúc
Ý nghĩa nghệ thuật: Nói về con gà có nhiều đức tính tốt đẹp đó là: văn, vũ, dũng, nhân, tín.
Mào gà tựa cánh chuồn: văn
Cựa gà giống kiếm đấu chọi: vũ
Gà trống chọi nhau quyết liệt: dũng
Gà kiếm được mồi dành cho cả đàn cùng ăn: nhân
Gà gáy năm canh đều đặn: tín
Giới thiệu nghề tranh Đông Hồ
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ ở khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ra đời cách đây khoảng 500 năm. Cộng đồng thực hành nghề đã tạo ra những bức tranh có đặc trưng riêng về chủ đề, kỹ thuật in, màu sắc và đồ họa bằng kỹ thuật in khắc gỗ. Các chủ đề của tranh thường bao gồm tranh thờ, chúc tụng, tranh lịch sử, tranh sinh hoạt, tranh phong cảnh, gắn với tập tục treo tranh vào ngày Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, thờ cúng tổ tiên và thờ thần.
Các công đoạn sáng tác mẫu, khắc ván in, làm màu, in tranh đều bằng tay. Mẫu tranh được vẽ bằng bút lông, mực nho trên giấy bản và khắc trên ván gỗ thị. Các màu được chế biến từ nguyên liệu tự nhiên: màu xanh từ lá chàm, màu đỏ từ sỏi son, màu vàng từ hoa hòe và quả dành dành, màu trắng từ bột sò điệp bị phong hóa, màu đen từ tro lá tre, rơm nếp. Tranh được in úp ván với 5 màu cơ bản trên giấy dó đã được phủ một lớp hồ điệp. Các màu được in theo nguyên tắc màu đỏ in trước, tiếp đến màu xanh, vàng, trắng. Ván nét màu đen in cuối cùng để hoàn thiện bức tranh.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ ở khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ra đời cách đây khoảng 500 năm.
Theo Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam đáp ứng các tiêu chí ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, cụ thể:
1. Tranh dân gian Đông Hồ gắn bó mật thiết với các lễ tiết quan trọng như Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu, cũng như các nghi lễ thờ cúng tổ tiên và thần linh. Ngày nay, chỉ còn một số ít gia đình tiếp tục duy trì nghề này, truyền lại tri thức và kỹ năng trong phạm vi gia đình và cho người học việc thông qua hướng dẫn trực tiếp và kèm cặp thực hành. Một số công đoạn như vẽ mẫu và khắc bản in đòi hỏi đào tạo chuyên sâu và tích lũy kinh nghiệm trong nhiều năm. Các bản khắc gỗ được xem như báu vật gia truyền, được truyền lại qua nhiều thế hệ.
2. Số lượng nghệ nhân lành nghề đã giảm mạnh (theo hồ sơ đề cử, chỉ còn vài hộ gia đình duy trì nghề), do thế hệ trẻ ít quan tâm, nghề khó bảo đảm sinh kế, và nhu cầu sử dụng tranh in khắc gỗ trong các dịp lễ truyền thống giảm sút. Số người có tay nghề cao và tâm huyết theo đuổi nghề đã quá ít để duy trì việc truyền dạy và làm tranh, nên nghề cần được bảo vệ khẩn cấp.
3. Kế hoạch bảo vệ đề ra bảy mục tiêu, bao gồm: mở các lớp truyền nghề, kiểm kê di sản, thiết kế mẫu, đa dạng hóa thị trường, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu, và cung cấp thiết bị bảo hộ cho nghệ nhân. Các hoạt động được đề xuất khả thi, phù hợp với mục tiêu và có tính bền vững, đồng thời đặt cộng đồng ở vị trí trung tâm.
4. Hồ sơ cho thấy sự tham gia tích cực của cộng đồng, đặc biệt là các gia đình làm nghề, trong toàn bộ quá trình lập hồ sơ, thông qua các hoạt động kiểm kê và sự kiện công chúng.
5. Di sản đã được đưa vào Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, được cập nhật thường xuyên với sự tham gia của cộng đồng.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam đáp ứng các tiêu chí ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp
Theo đó, Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 quyết định ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp và khuyến khích Việt Nam xem xét việc tích hợp di sản này vào hệ thống giáo dục, cả chính quy và phi chính quy, nhằm khuyến khích thế hệ trẻ hiểu và trân trọng tầm quan trọng của việc bảo vệ di sản.
Việc UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp có ý nghĩa sâu sắc đối với cộng đồng thực hành và công chúng Việt Nam. Trước hết, nó khẳng định giá trị lịch sử - nghệ thuật độc đáo của nghề, đồng thời tạo động lực để các nghệ nhân tiếp tục gìn giữ kỹ năng, bí quyết nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một.