GIA ĐÌNH NGHỆ NHÂN NGUYỄN HỮU HOA – NGUYỄN THỊ OANH: MỘT NẾP NHÀ LẶNG LẼ GIỮ HỒN TRANH ĐÔNG HỒ - Tác giả: Phạm Quang Hà
Trong một nếp văn hóa của gia đình ở làng tranh dân gian Đông Hồ, tiếng kể chuyện của những người nghệ nhân, mùi hương của giấy điệp, màu tự nhiên từ cỏ cây, hoa lá và những ván khắc cũ đẫm màu thời gian vẫn đang lặng lẽ nối liền các thế hệ: từ đời ông, đời cha, đến đời con cháu hôm nay.
GIA ĐÌNH NGHỆ NHÂN NGUYỄN HỮU HOA – NGUYỄN THỊ OANH: MỘT NẾP NHÀ LẶNG LẼ GIỮ HỒN TRANH ĐÔNG HỒ
Tác giả: Phạm Quang Hà.
Từ Ngày Gia Đình Việt Nam Nhìn Về Một Nếp Nhà Đông Hồ
Trong một nếp văn hóa của gia đình ở làng tranh dân gian Đông Hồ, tiếng kể chuyện của những người nghệ nhân, mùi hương của giấy điệp, màu tự nhiên từ cỏ cây, hoa lá và những ván khắc cũ đẫm màu thời gian vẫn đang lặng lẽ nối liền các thế hệ: từ đời ông, đời cha, đến đời con cháu hôm nay.
Nhân Ngày Gia đình Việt Nam 28/6, câu chuyện về gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa – Nguyễn Thị Oanh gợi ra một cách nhìn sâu hơn về mái ấm Việt. Ở đó, gia đình không chỉ là nơi sum vầy, ăn với nhau một bữa cơm đạm bạc, bàn chuyện xóm làng, sẻ chia vui buồn, đắng cay qua từng ngày tháng; mà còn là nơi giữ lại ký ức, khoảnh khắc và giá trị của một nghề làng đã được cha ông truyền lại.
Từ đôi bàn tay của người chồng – người nghệ nhân làng tranh Đông Hồ, từ những nét vẽ bền bỉ, chịu thương chịu khó của người vợ, đến lời kể về làng, về giếng nước, về hai hồ Song Hồ, về lũy tre bên dòng sông Đuống, một nếp nhà Đông Hồ vẫn âm thầm giữ lấy linh hồn, giữ lấy ngọn lửa văn hóa dân gian cho hôm nay và cho cả những thế hệ mai sau.
Một Buổi Xế Chiều Trong Nhà Nghệ Nhân Đông Hồ
Tôi đến làng Đông Hồ dọc theo sông Đuống, dọc theo miền di sản đất Kinh Bắc xưa. Sau khi viếng lăng mộ Kinh Dương Vương, tôi tiếp tục men theo triền đê về phía làng tranh Đông Hồ. Đó là một buổi chiều hè đầu tháng Sáu dương lịch, giữa tiết tháng Tư âm lịch của xứ Bắc Bộ.
Khi ánh nắng cuối ngày còn vương trên đường làng, trẻ con đã ra sân đá bóng vì trời đã dịu nắng. Dọc triền đê, từng lớp thóc đang được người dân phơi, vun, dọn trong buổi chiều. Từ xa, những dấu hiệu của làng tranh dần hiện ra, mỗi lúc một gần hơn. Tôi chợt nhận ra: đây là làng Đông Hồ, một làng nghề từng vang danh, hiện ra bên cổng chào cạnh đê, lặng lẽ mà vẫn bừng sáng giữa miền quê.
Qua biển hiệu nhỏ chỉ dẫn vào gia đình nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh, khoảng sân nhà mở ra không quá rộng, nhưng đủ để người ghé thăm nhận ra đây không phải một ngôi nhà bình thường. Trên những bức tường trong gian trưng bày, tranh Đông Hồ được treo gọn gàng, có lề có lối, như chính cái cách làng quê này gìn giữ nền nếp văn hiến từ xa xưa. Những lớp màu mộc mạc nằm cạnh các ván khắc đã phai màu thời gian; ngoài sân, giấy dó, giấy điệp được hong phơi; trong nhà, màu tự nhiên, dụng cụ làm nghề và từng bức tranh như cùng mang theo dấu vết của nhiều năm tháng thăng trầm.
Trong không gian ấy, nhà không chỉ là nhà. Đó còn là xưởng nghề, nơi làm việc của các thế hệ cha ông, của các bà, các mẹ; là phòng trưng bày đón khách thập phương; và cũng là một lớp học truyền nghề nhỏ, mở ra cho những ai thật sự yêu tranh dân gian Đông Hồ.
Nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa vừa giới thiệu từng bức tranh, từng bản khắc, vừa kể chuyện làng nghề bằng giọng chậm rãi, từ tốn, mộc mạc mà đầy tự hào. Ở một góc khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh lặng lẽ bên bàn làm việc, đôi tay miên man theo từng nét vẽ. Giấy, màu, nét bút và ánh mắt người thợ hòa vào nhau, làm nên những hình ảnh đơn sơ mà đậm tình quê.
Tiếng kể của ông, sắc màu trong tranh và nhịp tay của bà như quyện lại, khiến người nhìn, người nghe có cảm giác mình không chỉ đang xem tranh, mà đang bước vào một nếp sống gia đình còn sinh động cùng di sản, cùng tranh dân gian Đông Hồ.
Gia Đình Nhiều Đời Giữ Nghề: Từ Cố Nghệ Nhân Nguyễn Hữu Sam Đến Thế Hệ Hôm Nay
Sau khoảng sân nhỏ và những bức tranh dân gian treo trong nhà là câu chuyện dài đằng đẵng của một gia đình nhiều đời, nhiều thế hệ đã gắn bó sâu sắc với từng bức tranh Đông Hồ cổ kính.
Bác Oanh đón tiếp tôi tham quan một chút, sau đó mời tôi ngồi lại để nói chuyện sâu hơn, để bàn về làng quê văn hiến và đàm thoại cùng bác Hoa. Theo lời kể của nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa, gia đình ông đã có truyền thống 7 đến 8 đời làm tranh.
Nghề sinh ra, duy trì và đến tay từng thế hệ không như một sự gượng ép, mà như một nếp sống, một thói đời, một phần trong tâm hồn, một phần của quê hương. Nó được giữ, được gìn, được hun đúc, thui rèn và truyền đời qua từng thế hệ cha ông cho tới nay.
Trong dòng thời gian ấy, trong dòng nước của sự truyền đời, truyền nghề ấy, cố Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Sam, bậc sinh thành, bậc từ phụ của bác Hoa, là một dấu mốc đặc biệt. Cụ Sam như một ngọn lửa bùng lên của làng Đông Hồ. Sau nhiều năm tháng quê hương bị giặc ngoại xâm giày xéo, nghề làng phai mờ, tranh thưa bóng người mua, thì cụ xuất hiện, giương cao ngọn cờ phục hưng cái bát, cái nghề, cái tranh của cha ông; phục hưng những bức tranh đã đi vào ca dao, tục ngữ, đã được cụ cố, cụ tổ để lại. Cụ Sam – người giương cờ, người dựng cao ngọn đuốc phục sinh của làng Đông Hồ.
Ông không chỉ là người cha, người thầy trong gia đình. Ông còn được người đời nhắc đến như một biểu tượng của sự bền bỉ, một người giữ lửa thiêng của làng qua những thăng trầm, bể ải, khổ đau của thời chiến loạn.
Có lúc, Đông Hồ từng thưa vắng người mua. Không ai còn nghĩ nhiều đến tranh khi nhà ta đang bùng cháy bởi thuốc súng của giặc thù. Trong bối cảnh đương thời ấy, số hộ làm nghề ít ỏi vô cùng. Nhiều người phải rẽ sang nghề khác, rời nghề làng, rời cái nếp cha ông để tha hương cầu thực, theo một tổ nghề khác vì miếng cơm manh áo, mà đành để bản sắc làng mình phai nhạt đi. Biết trách sao được một thời.
Nhưng chính trong bối cảnh đó, chính trong căn nhà ấy, trong cái nếp nhà truyền thừa ấy, ngọn lửa nghề vẫn âm ỉ cháy. Nó vẫn bất khuất duy trì, nhen nhóm và chờ ngày bùng lên đúng thời điểm, bằng sự kiên trì, bằng tình yêu tranh dân gian, và bằng cả ý thức nhận ra hồn cốt cha ông đang nằm chính nơi tranh, chính nơi nét vẽ này, nơi những ván khắc này, nơi màu giấy điệp này, từ đời cụ Sam truyền lại.
Đến hôm nay, khi đất nước đã khoác lên mình bức tranh hiện đại, sau bao cấp, sau Đổi mới, sau những dâu bể của thời cuộc, vợ chồng ông Hoa – bà Oanh vẫn đứng nơi đây, tiếp tục di sản mà cụ Sam đã dựng và thắp sáng. Ông bà đứng trong dòng chảy truyền thừa của làng quê: vừa làm tranh, vừa kể chuyện, vừa vẫy tay chào đón du khách thập phương gần xa hội tụ; vừa truyền nghề, vừa tiếp tục giáo hóa, thắp sáng ngọn lửa hồn quê cho con, cho cháu mai này.
Những chi tiết, những thao tác tưởng chừng đơn sơ, nhỏ bé, mà chứa chan ý nghĩa và sứ mệnh lớn lao vô ngần. Trong từng lần đặt tay lên bản khắc, trong từng nét vẽ, từng tờ giấy, từng màu tranh, có cả một hồn làng, hồn quê hương.
Ở gia đình ông bà Hoa – Oanh, nghề không chỉ được truyền qua lời dạy. Nghề còn được truyền bằng cách nhìn người lớn làm, nhìn thầy làm, nhìn cha in, nhìn mẹ vẽ, nhìn cô hát câu ca dao; bằng cách nghe các bậc tiền nhân, tiền bối kể chuyện, rồi lặp đi lặp lại từng động tác qua từng tháng năm nơi quê nhà.
Vợ Chồng Nghệ Nhân: Một Người Kể Chuyện, Một Người Giữ Nét Vẽ
Gia đình, trước hết, là một tập thể gắn bó. Trong nếp nhà Đông Hồ ấy, người chồng là ông Hoa giữ nhịp điệu, giữ nhịp kể, giữ cho dòng chảy truyền thừa không bị đứt quãng. Người vợ là bà Oanh giữ những nét vẽ còn in màu mực mới trên tranh, giữ những sắc màu tươi tắn, và giữ cả sự bền bỉ trong từng công đoạn tưởng như nhỏ bé mà không hề nhỏ bé.
Trong căn nhà nhỏ đơn sơ của gia đình nghệ nhân, vai trò của ông Hoa và bà Oanh hiện lên rất tự nhiên, rất mộc mạc. Người thì giới thiệu, dẫn dắt du khách tham quan, kể một câu chuyện nhỏ, mở ra gốc tích một bức tranh quê. Người thì ngồi vào ghế, đặt tay lên khuôn in, căn chỉnh từng chút, chờ đôi ba giây, rồi theo bản năng nghề nghiệp mà đặt khuôn khắc vào đúng vị trí của bức tranh trên mặt giấy. Người mời khách ngồi xuống, uống chén trà, đàm đạo đôi ba câu chuyện về gốc tích làng, gốc tích tranh. Người lại tiếp tục làm cho những câu chuyện ấy còn mãi, bền lâu trên đường nét và màu sắc của trang giấy điệp.
Nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa thường là người mở đầu cuộc trò chuyện với những du khách có hứng thú, có đam mê với văn hóa và giá trị tranh Đông Hồ. Ông kể về làng, về sự tích, về gốc gác của tranh, về người làm tranh, về hoa hòe, lá tre, vỏ điệp, về từng thứ nguyên liệu đã làm nên sắc màu dân gian. Qua lời kể của ông, những bản khắc không còn là những tấm gỗ vô tri; giấy dó, giấy điệp, màu hoa hòe, màu than lá tre, màu trắng từ mai con điệp cũng không còn chỉ là vật liệu. Chúng hiện lên như những mảnh đời của làng, như từng phần thân thể của tranh, của đất, của nước, của người.
Ông kể về làng, về tranh, về những câu ca dao đã đi qua năm tháng; về màu giấy điệp bừng sáng, về tranh gà, tranh lợn, về cái cách một bức tranh dân gian mang được tiếng cười, ước vọng, nỗi niềm và trí tuệ của người quê. Ông kể cả những thăng trầm lịch sử đã đi qua cùng gia đình này, cùng làng này, cùng những bức tranh từng có lúc tưởng như lặng tiếng.
Nhưng ông không chỉ kể. Ông ngồi ngay vào bàn thực hành, ngay nơi công đoạn in tranh. Bàn tay đặt lên khuôn khắc, mắt nhìn mặt giấy, thân người hơi cúi xuống, căn chỉnh một chút, giữ vững đôi ba giây rồi ấn xuống. Trong khoảnh khắc ấy, ở ông, người thợ, người kể chuyện, người đón khách, người làng, người trụ cột gia đình và người giữ lửa cho thế hệ sau như hòa làm một.
Cạnh ông là bóng dáng người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó: nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh. Bà có nụ cười trìu mến, thân thương, nhưng đôi tay thì chắc, mắt nhìn thì kỹ, nét vẽ thì mềm mà không lỏng. Bà vẽ, bà chuẩn bị từng trang giấy, từng nét màu; bà đang vẽ dở, khách tới, bà dừng tay, nở một nụ cười, rồi lại bắt đầu một hành trình khác: hành trình kể, truyền, trao cho khách giá trị của tranh Đông Hồ.
Bà Oanh giữ cho căn nhà ấy, xưởng tranh ấy, phòng tranh ấy luôn có hơi ấm. Không chỉ là hơi ấm của bếp nhà, của người phụ nữ trong gia đình, mà còn là hơi lửa của sự nhiệt huyết với nghề, của tấm lòng nồng hậu với khách phương xa. Trong từng cử chỉ tiếp khách, từng lần đưa tay lên giấy, từng nét màu đi qua mặt tranh, có một sự bền bỉ không ồn ào, một sự chịu thương chịu khó mà không cần gọi tên quá lớn.
Chính sự phối hợp ấy, sự linh hoạt, đảm đương, đa nhiệm ấy làm nên sức sống sinh động của một gia đình làng Đông Hồ. Nghề của làng không chỉ nằm trong tay ông tổ làng, không chỉ nằm trong tay cụ Sam, cũng không nằm riêng trên bàn tay của bất cứ một người dân Đông Hồ nào. Nghề được nâng đỡ, vun đắp, vun bồi, tích lũy bởi tình yêu, trách nhiệm, đam mê và sự đồng lòng của cả gia đình ông Hoa – bà Oanh. Rộng hơn nữa, nó nằm trong những cụm gia đình còn giữ nghề của làng Đông Hồ; và chính sự đoàn kết, đồng lòng của những nếp nhà ấy mới quyết định sự hưng thịnh hay phai nhạt của làng, của tranh.
Ngày thường, ông Hoa và bà Oanh là vợ chồng. Nhưng khi ngồi trước tranh, trước giấy điệp, trước bản khắc và du khách thập phương, họ là hai người cùng giữ một mạch truyền thừa, cùng nâng một dòng nghề, cùng giữ cho tranh Đông Hồ còn hơi thở trong đời sống hôm nay.
Con Cháu Và Sự Truyền Nghề: Di Sản Sống Bắt Đầu Từ Trong Nhà
Ở Đông Hồ, nếp nhà, nếp sống gia đình không chỉ nằm trong đôi tay của những thế hệ đi trước, mà còn nằm ở sự có mặt, sự hiện diện, sự sum vầy, sự đông đúc, sự hoạt náo của bầy con cháu đang ríu ra ríu rít trong nhà.
Trong căn nhà ấy, người trẻ, những cậu thanh niên, những em bé gái, những thằng cu tí không hề đứng ngoài di sản. Họ có mặt bên bàn tranh, phụ cha, giúp mẹ chuẩn bị cái này, rửa ráy cái kia, xếp giấy lên bàn, pha màu, mài vỏ điệp, chuẩn bị khuôn sẵn trên bàn cho bố in, chạy ra ngõ quấn quýt khi khách thập phương tới chơi. Từng cái nhìn tò mò khi mẹ phơi tranh, khi mẹ vẽ họa; từng bước chân qua lại, từng công đoạn, từng sự di chuyển dù nhỏ nhất, đều in hằn trong tâm trí những đứa trẻ nơi đây.
Dù thao tác có lúc còn chậm, còn vụng về tay chân; dù có khi làm đổ cái này, làm rách cái kia; dù có việc còn lóng ngóng, có việc đã nhanh tay, nhanh mắt, thoăn thoắt như tên bay, thì chính sự có mặt của lũ trẻ, của lớp thanh niên ấy đã minh họa cho sự trao đi, sự truyền thừa từng chút một, mỗi ngày. Dòng nước của nghề làng đang lặng lẽ chảy qua chúng, âm ỉ mà bền bỉ.
Đối với một di sản đặc sắc, đặc thù của làng, gia đình chính là lớp học đầu tiên. Đó là nơi tổ chức, diễn ra và hiện hữu các hoạt động liên quan tới di sản. Bài học không khởi động bằng việc lật từng trang sách khô khan, nhiều chữ, mà bằng việc ngắm nhìn, quan sát ông bà, cha mẹ, anh chị, cô dì, chú bác làm nghề mỗi ngày; bằng việc lắng tai nghe những câu chuyện thường nhật: hôm nay cô Thắm bán được bao nhiêu tranh, chú Thắng mua được bao nhiêu ký vỏ điệp, giấy mới đã về chưa, màu đã khô chưa, tranh phơi ngoài sân có kịp nắng không.
Rồi từ nghe mà thành nhìn, từ nhìn mà thành làm. Bắt tay vào làm thì có vỡ, có hư, có rách, có ướt, có lem màu, có tờ chưa khô đã vội cầm lên. Nhưng rồi cứ làm đi, làm lại, miệt mài từ ngày này qua ngày khác. Truyền nghề, dòng chảy truyền thừa vì thế không chỉ là lưu giữ một kỹ thuật, một cách làm, một tuyệt chiêu độc nhất vô nhị hay một mẹo thủ công riêng của làng. Nó còn là truyền đi, giáo dục, kiến tạo một cách sống; là gây dựng một tình yêu quê hương đất nước, một nỗi niềm hiểu làng, hiểu quê, hiểu cái nghề của cha ông để lại, và ngày càng sống sâu hơn, có nghĩa hơn với nó.
Ở gia đình này, mỗi thế hệ, mỗi con người, mỗi đóng góp nhỏ đều góp phần vào sự trường tồn của làng, vào sự sống, sự diễn ra, sự sinh sôi của làng tranh dân gian Đông Hồ. Một thằng cu, một em gái lớn lên giữa làng, giữa gia đình, quanh mình là màu giấy trắng, mùi vỏ điệp, những ván mộc khắc, những câu chuyện làng, thì di sản không còn chỉ nằm trong bảo tàng, không còn chỉ nằm trong tủ kính. Nó đã, đang và sẽ còn nằm trong chính nhịp sống hằng ngày của dân làng nơi đây.
Tranh Đông Hồ Không Chỉ Là Sản Phẩm, Mà Là Câu Chuyện Của Một Làng Quê
Ở Đông Hồ, với từng người nghệ nhân, từng người thợ, từng người vẽ tranh, mỗi bức tranh không chỉ là một sản phẩm sinh kế, không chỉ để bán, để kiếm tiền, để đổi lấy miếng cơm manh áo. Ở chiều sâu hơn, mỗi bức tranh còn để kể, để nhớ, để lưu truyền: kể về Tết, về làng, về ước vọng no đủ, cơm có ăn, áo có mặc, tranh có treo trong nhà; kể về tiếng cười dân gian vang vọng nơi cây đa đầu làng, nơi các cụ, các cô đi chợ về, và kể cả nếp sống của một vùng quê Bắc Bộ.
Trong thế giới quan, trong đời sống hằng ngày nơi làng tranh Đông Hồ, có bức tranh thờ gắn với đời sống tâm linh; có bức tranh chúc tụng các bậc cao niên, gửi gắm những mong cầu may mắn, bình an, an khang thịnh vượng, phúc lộc đầy nhà. Có những bức tranh sinh hoạt phản ánh cảnh lao động, cảnh đời dân dã của người làng; có tranh lịch sử, tranh kháng chiến, tranh chống giặc ngoại xâm; có những bức tranh truyện giản dị, bình dị, đơn sơ; có tranh phong cảnh thiên nhiên, ao làng, đình làng, xóm nước. Và cũng có cả những bức tranh châm biếm, biếm họa, đả kích xã hội bằng tiếng cười hóm hỉnh, ẩn dụ trong tranh, như “Đánh ghen” hay “Đám cưới chuột” hối lộ cho mèo.
Điều đặc biệt, quý giá làm nên vẻ đẹp riêng của tranh Đông Hồ còn nằm ở chất liệu, ở nguyên liệu, ở cái cách người làng lấy từ thiên nhiên mà làm nên sắc màu cho tranh. Từ những tờ giấy dó đơn sơ, mộc mạc, đến giấy điệp trắng tinh tươm; từ màu mai điệp đến những sắc màu tự nhiên, mỗi công đoạn, mỗi nhịp, mỗi bước đều gắn với kinh nghiệm dân gian, với thói quen cha ông truyền lại, với bàn tay người thợ thoăn thoắt qua từng bước mà làm nên vẻ đẹp đơn sơ, tự nhiên.
Màu vàng từ hoa hòe, hạt dành dành; sắc vàng ấy tỏa ra, hòa vào trong tranh như nắng quê. Màu đen đến từ than, từ lá tre đã đốt thành tro. Màu trắng đến từ vỏ con điệp nơi vùng biển khơi. Vì thế, khi nhìn một bức tranh Đông Hồ, ta không chỉ nhìn những đường nét thanh tao, đơn giản, giản dị; không chỉ nhìn thấy những sắc vàng, đen, trắng, đỏ, xanh điểm tô nổi bật trên tranh, phối hợp và hòa quyện cùng nhau. Ta còn nhìn thấy cả quê hương: màu nâu của đất mẹ, màu trầm của cây gỗ, màu xanh của lá cây, hàng cây đầu ngõ; thấy cả mùa Tết mỗi năm rộn ràng tiếng cười, tiếng pháo trong ký ức; thấy cả một miền quê còn đọng lại trong từng nét in, từng lớp màu.
Bởi vậy, điều mà gia đình người nghệ nhân đang gìn giữ không chỉ là một cái nghề, không chỉ là một sinh kế kiếm sống, một miếng cơm, một manh áo. Đó là cả một hệ văn hóa, một hệ văn hiến quy mô làng xã, đã, đang và sẽ tiếp tục được trao truyền, tiếp tục chảy qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau.
Sau Vinh Danh Là Trách Nhiệm: Niềm Vui Đi Cùng Nỗi Lo
Vào năm 2025, làng Đông Hồ hân hoan đón nhận tin vui từ UNESCO, từ Nhà nước Việt Nam: nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Với gia đình nghệ nhân ông Hoa – bà Oanh, cũng như với cả làng Đông Hồ bấy giờ, đó là một niềm vui vô cùng to lớn. Đó như một lời ghi nhận, một lời công nhận, một lời ghi danh, ghi nhớ đối với một nghề thủ công đã bền bỉ, miệt mài, trường chinh qua nhiều thế hệ cha ông, đầy gian khổ, vất vả mà cũng lắm niềm vui, lắm ý nghĩa.
Nhưng sau niềm vui ấy là những nỗi lo, những yêu cầu, những thách thức ngày càng lớn, ngày càng cụ thể hơn đối với những người đang sống với nghề, đang làm nghề, như chính gia đình ông Hoa – bà Oanh.
Theo ông Hoa, nguyên liệu làm tranh hiện nay ngày càng khó tìm. Trước đây, khi đời sống chưa bước sâu vào thời kinh tế thị trường, khi làng quê còn nhiều không gian tự nhiên hơn, nguồn nguyên vật liệu còn phong phú hơn. Nhưng bây giờ thì khác. Giấy dó, bột màu tự nhiên, vỏ con điệp, những rặng tre ngà, những thứ tưởng như bình dị làm nên hồn tranh Đông Hồ, nay đều không còn dễ tiếp cận như trước nữa.
Trong khi đó, xã hội hiện đại vận động nhanh hơn, nhà nhà làm kinh tế, người người tăng gia, sản xuất, cạnh tranh gay gắt hơn. Khách hàng có nhiều sự lựa chọn mới, nhiều sản phẩm mới, nhiều thú chơi mới. Vì thế, tranh Đông Hồ không còn giữ vị trí quen thuộc trong đời sống, trong lòng khách thập phương như thuở xưa. Đầu ra sản phẩm, thị trường tiêu thụ vẫn còn khiêm tốn. Số hộ làm nghề ít dần. Những thanh niên trai tráng trong làng cũng có nhiều con đường mưu sinh hơn ngoài nghề truyền thống, cái nghề đôi khi bị nhìn như là “quê”, như là chuyện chỉ còn dành cho ông già, bà già.
Vinh danh, ghi nhận, định vị hình ảnh chính thức trước nhân loại toàn cầu, vì vậy, không tự làm cho cái nghề sống được, càng không thể tự cứu lấy nghề nếu thiếu người làm, thiếu bàn tay lành nghề, thiếu sức khỏe, sức trẻ, thiếu những người hiểu nghề, nghĩ được cho nghề và dám phát huy nghề. Nghề cũng khó sống nếu thiếu nguyên liệu: thiếu cây dó, thiếu nơi cho cây dó mọc; thiếu con điệp, thiếu rặng tre ngà; thiếu những nền tảng đã làm nên một bức tranh còn vương mùi đất, mùi mưa, mùi nắng gió. Nghề càng khó sống nếu thiếu thị trường: người bán còn đó, nhưng người mua thưa vắng. Và nghề cũng khó đi xa nếu thiếu tre già măng mọc; nếu tre đã già vẫn phải cam chịu làm việc của măng, trong khi măng lớn lên lại không muốn thành tre, mà muốn thành trúc, thành mai, thành đào, rẽ sang một lối khác của đời mình. Thế mới thấy, câu chuyện giữ nghề không hề đơn giản, mà vô cùng nan giải.
Với gia đình người nghệ nhân, gìn giữ, duy trì sự sống văn hóa của tranh Đông Hồ không chỉ là giữ một cái danh, một cái hiệu. Đó là tiếp tục nghề, tiếp tục sống, tiếp tục làm nghề, tiếp tục bán tranh, tiếp tục vẫy tay đón khách, và tiếp tục truyền đi tình yêu di sản cho thế hệ mai sau.
Bởi vậy, sau mỗi tấm bằng khen, mỗi chiếc huy chương, mỗi tờ giấy chứng nhận, vẫn còn một câu hỏi rất đời, rất thường: làm sao để người làng, dân làng, những người đang giữ nghề, có thể sống được bằng chính cái nghề này, cái nghề mà cha ông đã truyền tay nhau cho tới thế hệ con cháu hôm nay?
Gia Đình Nghệ Nhân Như Một Điểm Đến Văn Hóa: Làm Nghề, Kể Chuyện, Đón Khách
Từ một không gian gia đình, nhà ông bà Hoa – Oanh dần trở thành một điểm đến nhỏ của làng Đông Hồ: một điểm đến về văn hóa, về giáo dục, về di sản.
Du khách thập phương tới đây không chỉ để xem tranh. Họ đến để nghe, để ngồi vào bàn, để đứng nhìn, để quan sát những câu chuyện của làng đang hiện ra qua từng việc nhỏ: cái cách bác Hoa in tranh, cái cách cô Oanh vẽ, cái cách người cháu gái phơi những tờ giấy trắng và cất lên câu hát dân gian “Hỡi cô thắt lưng bao xanh…”. Từ cách pha màu, cách đặt ván khắc, cách căn giấy điệp, đến cách một bức tranh dân gian được hình thành, được ra đời từ ván gỗ, từ giấy, từ màu, và từ đôi tay khéo léo của người thợ, người nghệ nhân.
Ở nhà ông Hoa – bà Oanh, trong bối cảnh ấy, người nghệ nhân không chỉ duy nhất là người sản xuất, người làm việc. Họ còn là người kể, người thuyết minh, người hướng dẫn trải nghiệm, người dẫn đường, người vẽ hướng cho du khách quan sát và cảm nhận. Họ trả lời những câu hỏi, những khúc mắc của khách; cũng là người giúp du khách thấu hiểu vì sao một bức tranh con lợn, con gà, “Đám cưới chuột” hay một cảnh sinh hoạt dân gian lại chứa đựng nhiều lớp nghĩa văn hóa, nhiều tầng ý nghĩa.
Có người đến để chụp một tấm hình. Có người hỏi mua một bức tranh, mang về làm kỷ niệm. Cũng có người ở lại lâu hơn, ngắm, nhìn, lắng tai nghe những câu chuyện phía sau màu sắc và đường nét của tranh.
Chính nhờ sự gặp gỡ ấy, sự mặt đối mặt ấy, tranh Đông Hồ không chỉ đứng yên trên kệ, trên vách tường, mà tiếp tục sống, tiếp tục hiển lộ, tiếp tục biểu hiện trong những cuộc trò chuyện đời thường hôm nay. Một chuyến ghé thăm nhà nghệ nhân, vì vậy, không chỉ là việc mua một bức tranh, mà còn là gặp một gia đình, một tổ ấm đang sống cùng di sản của làng.
Giữ Một Nếp Nhà Cũng Là Giữ Một Phần Hồn Việt
Tới đây, nhìn từ câu chuyện của gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa – Nguyễn Thị Oanh, ta thấy Ngày Gia đình Việt Nam không chỉ gợi nhắc về tình thân, về sự quây quần, đoàn tụ; không chỉ nói về bữa cơm sum họp hay một mái ấm đời thường. Gia đình, trong nhiều trường hợp, còn là nơi gìn giữ cái nghề của ông cha truyền lại, là nơi nâng đỡ những ký ức cộng đồng, xóm làng, và trao lại bản sắc văn hóa của nghề, của làng cho thế hệ mai sau.
Ở Đông Hồ, một bức tranh được giữ lại, được duy trì, được tô điểm không chỉ bằng ván khắc gỗ, không chỉ bằng màu điệp hay giấy dó, mà bằng chính sự cộng hưởng, chung tay, bền bỉ của từng thành viên dưới một mái nhà quê. Dân làng Đông Hồ làm nghề, kể chuyện sự tích, vẫy tay chào khách thập phương, dạy con cháu thực hành, và âm thầm giữ cho linh hồn của từng bức tranh tiếp tục sống, tiếp tục có mặt, tiếp tục hiện hữu trong đời sống bình dị hôm nay của xóm làng, của đất nước.
Trong dòng chảy hiện đại, trong thời đại kinh tế mới, kỷ nguyên mới, có những di sản, có những nét văn hóa không hiện lên bằng những lời hô hào lớn. Chúng được giữ lại bằng những bàn tay lặng lẽ, âm thầm, trong từng mái nhà xóm làng. Ở Đông Hồ, gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa – Nguyễn Thị Oanh chính là một biểu hiện giản dị như thế: một nếp nhà giữ nghề, giữ ký ức, và giữ lại một phần hồn Việt.
Bài viết dựa trên ghi chép thực địa tại gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa – Nguyễn Thị Oanh, làng tranh dân gian Đông Hồ, Bắc Ninh, tháng 6/2026. Ảnh: tác giả/gia đình nghệ nhân cung cấp.